Khối 8406: Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006

Tuyên bố nhân kỷ niệm lần thứ 6 ngày thành lập (8/4/2006 – 8/4/2012)

Kính gửi:
– Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.
– Các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền và cộng đồng thế giới tiến bộ.

Khối 8406 đã được thành lập vào ngày 8-4-2006 là ngày mà bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006 được công bố rộng rãi (Tuyên Ngôn 8406). Sáu năm qua, trải qua chặng đường xây dựng và phát triển với nhiều hy sinh gian khổ của mình, Khối 8406 đã luôn nỗ lực trung thành với tinh thần và mục tiêu mà bản Tuyên Ngôn 8406 đã vạch ra là: đấu tranh giành lấy các quyền tự do dân chủ cho Việt Nam bằng con đường bất bạo động, thay thế triệt để chế độ độc đảng chuyên chế, toàn trị hiện nay bằng chế độ đa nguyên đa đảng và dân chủ pháp trị trong tương lai. Đây vừa là xu thế của thời đại, vừa là nhu cầu cấp bách của Dân tộc! Nay nhân ngày kỷ niệm, nhìn lại tình hình đất nước, đồng lòng với ý kiến của vô vàn Đồng bào trong lẫn ngoài nước….

Khối 8406 báo động: Tổ quốc lâm nguy!

Trước tất cả những gì đã và đang diễn ra ở Việt Nam, chúng ta có thể khẳng định rằng: Tổ quốc đang lâm nguy! Nguy cơ mất nước, nguy cơ làm nô lệ lần nữa cho quân thù xâm lược phương Bắc đang đến gần! Nguy cơ này xuất phát từ mưu đồ xấu xa và thâm độc của Nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc. Trầm trọng hơn, nó lại được sự đồng lõa đê hèn của một thiểu số nắm thực quyền trong đảng Cộng sản Việt Nam. Nghĩa là Trung Quốc hiểu rất rõ rằng: trong điều kiện thế giới ngày nay, thực hiện mưu đồ xâm lược Việt Nam bằng quân sự rất khó thành. Vì vậy, họ áp dụng nhiều hình thức xâm lược khác mà trước hết là xâm lược về chính trị qua việc tìm cách mua chuộc, tiến tới chi phối và khống chế một số nhân vật trong Ban lãnh đạo Hà Nội.

Tiếp theo, họ sử dụng đám “thái thú đời mới” này làm tay sai, tạo nên một liên minh ma quỷ giữa những kẻ cướp nước và những kẻ bán nước. Từ đó từng bước lèo lái đường lối phát triển của Việt Nam và xâm nhập lũng đoạn đất nước Việt Nam. Đây cũng là cách mà họ đã từng làm ở Campuchia, giai đoạn 1975–1979 khi sử dụng bè lũ diệt chủng Pol Pot – Ieng Sary là những người Campuchia để chống lại dân và nước Campuchia.

Những biểu hiện của cuộc xâm lược đó mà Dân tộc Việt Nam đang phải gánh chịu và chứng kiến là: Giới lãnh đạo Ba Đình:

1- Ra lệnh cho công an đàn áp mạnh những người Việt Nam yêu nước, khi họ biểu tình đòi bảo toàn đất tổ và khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam, quy cho họ tội “gây rối trật tự công cộng”. Đặc biệt có một số công dân bị sách nhiễu, hành hung, giam cầm, xử án chỉ vì lên tiếng chống lại quân xâm lược; nhiều công trình nghiên cứu về chủ quyền đất nước không được nhà cầm quyền thực sự nâng đỡ và phổ biến; việc quảng bá giáo dục về chủ quyền đất nước không được nhà cầm quyền thực hiện sâu rộng trong quần chúng và học đường.

2- Liên tục tổ chức những đợt “giao lưu văn hóa Việt–Trung”, những cuộc thăm viếng gặp gỡ giữa 2 đảng và 2 nhà nước, đề cao “16 chữ vàng và 4 tốt” trong quan hệ Trung?Việt, du nhập vô số tác phẩm văn hóa của Trung Quốc (nhất là phim ảnh); tất cả nhằm tạo nên một sự “hữu hảo” giả dối hòng làm mất sự cảnh giác trong nhân dân Việt Nam về mưu đồ xâm lược của Bắc Kinh.

3- Đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên – một địa bàn trọng yếu về an ninh và chiến lược, với hiệu quả kinh tế mù mờ và hiểm họa môi trường tiềm ẩn; đồng thời cho Trung Quốc thuê 300.000 ha rừng, với thời hạn 50 năm tại nhiều tỉnh xung yếu của đất Việt, gây nguy lớn về sinh thái và quốc phòng, bất chấp sự phản đối quyết liệt của nhiều người dân Việt.

4- Cho Trung Quốc thắng thầu rất nhiều dự án công nghiệp lớn, nhỏ (tới 90%) trải dài từ Bắc chí Nam, sau đó dung túng cho họ làm ăn dối trá cẩu thả, gây thiệt hại lớn cho Việt Nam về kinh tế lẫn xã hội và gây nguy cơ lệ thuộc kỹ thuật nước ngoài;

5- Mở cửa cho lao động phổ thông Trung Quốc vào Việt Nam ngày càng nhiều, không cần thị thực nhập cảnh, chẳng soát đăng ký tạm trú. Lực lượng này sống tại các khu riêng biệt thành thôn làng và phố thị, từ Lạng Sơn tới Cà Mau, nhiều phen đụng độ với người dân bản địa, gây ra những bất ổn xã hội hiện tại và đặc biệt những nguy hiểm trong tương lai, nếu có biến động về chính trị.

6- Bỏ mặc cho tiền giả, hàng giả, hàng độc hại, hàng trốn thuế, hàng kém chất lượng… của Trung Quốc xâm nhập bằng đủ mọi con đường vào Việt Nam, để cho thương lái Trung Quốc sục sạo trên khắp mọi miền của đất nước thu gom nguyên liệu một cách tự do, gây điêu đứng cho nền công nghiệp sản xuất và nền nông nghiệp chế biến của dân Việt.

7- Để mặc Trung Quốc cấm cản, bắt bớ, cướp bóc, đòi tiền chuộc, thậm chí giết chết ngư dân Việt đánh cá trên vùng biển nước Việt, mà không cho các lực lượng hải quân, không quân tiếp cứu, yểm trợ (lấy cớ lực lượng quân sự bất can thiệp vào chuyện dân sự) cũng như chẳng hỗ trợ mưu sinh cho những ngư dân bị thiệt hại tài sản. Có lên tiếng phản đối thì chỉ làm cách yếu ớt qua loa, tránh né gọi đích danh thủ phạm.

Tất cả những sự việc trên và nhiều điều tệ hại khác nữa đang diễn ra hàng ngày hàng giờ ở Việt Nam, dẫn tới một tình hình cực kỳ nguy hiểm là đất nước sẽ rơi vào tay Trung Quốc mà quân thù xâm lược chẳng cần phải nổ súng. Đám “thái thú đời mới” do Trung Quốc điều khiển lúc đó có thể ra lệnh cho quân đội Việt Nam án binh bất động và cho Quốc hội Việt Nam phê chuẩn việc sát nhập vào Trung Quốc để thành một tỉnh tự trị chẳng hạn.

Khi ấy sẽ hoàn tất mưu đồ của Trung Quốc. Có từ vạn thuở nhưng nhiều phen thất bại vì sự kháng cự mãnh liệt của Dân tộc, mưu đồ ấy đã sống lại với việc đảng Cộng sản Trung Quốc đỡ đầu đảng Cộng sản Việt Nam từ sau ngày Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc ra đời năm 1949; với việc Trung Quốc ủng hộ đảng Cộng sản Việt Nam đưa quân từ miền Bắc xâm chiếm miền Nam để đảng này mắc nợ Trung Quốc mà phải câm miệng khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988; rồi với việc lãnh đạo Hà Nội tái khấu đầu bái phục Bắc Kinh tại Thành Đô năm 1990 để Việt Nam sa hẳn vào vòng tay Trung Quốc hầu trở thành bàn đạp và cửa ngõ cho Trung Quốc xuống tiến chiếm Đông Nam Á.

Trước tình thế ấy, Khối 8406 nhận định rằng:

1- Sở dĩ đất nước lâm nguy vào tay Trung Quốc chính là do sự hiện diện của chế độ độc đảng toàn trị cộng sản tại Việt Nam suốt bao năm qua. Chế độ này cho phép Hồ Chí Minh và các thế hệ đồng chí đồng đảng sau ông dễ dàng chà đạp lên quyền lợi của Dân tộc để phục vụ cho những lợi ích của phe nhóm họ và của phe nhóm bảo trợ họ (đảng Cộng sản Trung Quốc). Chừng nào còn chế độ độc đảng toàn trị ấy thì chừng đó, những tính toán và những việc làm phản dân, hại nước (thậm chí bán nước) của nó vẫn còn tồn tại.

2- Sự tồn tại tai hại này được duy trì nhờ các cuộc bầu cử hình thức và giả dối, theo kiểu “Đảng cử – Dân bầu” tại Việt Nam, nhờ điều 4 mà đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa vào từ bản Hiến pháp năm 1992 và đang cố sức giữ lại trong cuộc sửa đổi Hiến pháp đang được tiến hành. Lý do là đảng không chấp nhận bất cứ sự phản biện đích thực và triệt để nào, nhất là về vấn đề an nguy của đất nước trước nạn ngoại xâm; và mục tiêu là đảng chỉ muốn độc quyền ra mọi quyết định, dù phi lý, vô luật, gây nguy cho Dân tộc, để tự bảo vệ quyền lực mình và để được đảng Cộng sản Trung Quốc bảo vệ quyền lực cho.

3- Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa 11 mới rồi về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” mà họ khua chiêng, gõ trống ầm ĩ thực chất là để đưa vào hàng ngũ lãnh đạo đảng những đảng viên có khuynh hướng thân thiện, thậm chí đầu phục Trung Quốc, hầu đảng trở thành công cụ và tôi trung hơn nữa cho thế lực ngoại xâm nguy hiểm này.

Nhân dịp kỷ niệm 6 năm ngày thành lập, Khối 8406 kêu gọi:

– Cộng đồng thế giới dân chủ hãy tiếp tục ủng hộ mạnh mẽ, nhiệt tình và có hiệu quả hơn nữa cho phong trào dân chủ Việt Nam, để chúng tôi xây dựng được một quốc gia độc lập, vững mạnh, sẵn sàng cùng thế giới đương đầu với một hiểm họa khu vực và hiểm họa toàn cầu đang lớn dần là Trung Hoa cộng sản.

– Đồng bào Việt Nam cả trong và ngoài nước hãy vượt lên trên những khác biệt, quyết đoàn kết một lòng cùng đấu tranh cho sự nghiệp dân chủ hóa đất nước đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Có như thế chúng ta mới gìn giữ được đất nước mà tổ tiên đã từng đem xương máu bảo vệ khỏi sự xâm lược của Bắc triều và mới xây dựng được mảnh đất của giống nòi Lạc Việt.

– Những người còn có lương tri trong đảng Cộng sản, trong bộ máy tam quyền, trong hai lực lượng quân đội và công an, trong giới truyền thông báo chí… hãy ý thức về hiểm họa mất nước vào tay Trung Quốc, để đặt quyền lợi của đất nước, sự sinh tồn của Dân tộc lên trên tất cả, và do đó ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa là đem lại tự do cho dân, độc lập cho nước.

– Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cần sớm thức tỉnh để đứng về phía Dân tộc, hầu đưa đất nước ngày càng ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc, thoát khỏi âm mưu thôn tính của kẻ thù truyền kiếp. Như thế trước tiên hãy trả tự do và thôi sách nhiễu những công dân đã tỏ ra yêu nước thương nòi mà lên tiếng chống quân xâm lược, những công dân từng đấu tranh cho dân chủ vì mong quốc gia phú cường và Dân tộc vững mạnh.

Nhân dịp này, Khối 8406

– xin trân trọng ghi nhận sự đóng góp vào đại cuộc Dân tộc của biết bao người con đất Việt đã đem hết tâm hồn, trí tuệ, ý chí cũng như đã chấp nhận bao hy sinh, gian khổ, ngục tù để khôi phục quyền làm người cho Đồng bào, quyền tự quyết cho Dân tộc.

– xin biểu dương tinh thần đấu tranh kiên cường, nỗ lực hoạt động bền gan của bao thành viên Khối trong 6 năm qua, xin ca ngợi tấm gương dũng cảm, ý chí bất khuất mà bao thành viên Khối đã tỏ rõ trong cảnh sách nhiễu hăm dọa, bắt bớ lao tù.

– xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ của đông đảo Đồng bào Việt Nam cả trong và ngoài nước cùng cộng đồng thế giới tiến bộ đã nhiệt tình ủng hộ Khối 8406 nói riêng và phong trào dân chủ Việt Nam nói chung trong những năm qua.

Làm tại Việt Nam ngày 04 tháng 04 năm 2012.

Ban Đại diện lâm thời Khối 8406.

1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải – 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, VN.

2. Linh mục Phan Văn Lợi – 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, VN.

3. Giáo sư Nguyễn Chính Kết – Đại diện Khối 8406 tại hải ngoại.

Với sự hiệp thông của Linh mục Nguyễn Văn Lý, cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù Cộng sản.

Phụ lục:

1) Sự thật về quan hệ Việt Nam?Trung Quốc 30 năm qua:
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=9915.0

2) Hội nghị Thành Đô, Trung Quốc, tháng 9-1990:
http://www.danchimviet.info/archives/54587

3) Tài liệu của Trung Quốc về cuộc gặp bí mật ở Thành Đô:
http://changevietnam.wordpress.com/2011/10/10/tai-li%E1%BB%87u-c%E1%BB%A7a-trung-qu%E1%BB%91c-v%E1%BB%81-cu%E1%BB%99c-g%E1%BA%B7p-bi-m%E1%BA%ADt-thanh-do-3-491990/

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Có 1 phản hồi tại Khối 8406: Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006

  1. dung nói:

    Nhân dân VN quá rõ con đường đi của CSVN , Chúng tôi cầu chúc khối 8406 sẽ thành công ,,,Sớm đưa dân ta thoát cảnh nô lệ …Chúc thắng lợi ..

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s