WTO và Trận Chiến Mỹ-Hoa

Thanh Hà & Nguyễn Xuân Nghĩa  RFI – Trung Quốc và Hoa Kỳ, kẻ cắp gặp bà già…Ngày 11/12/2011, Trung Quốc kỷ niệm 10 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, WTO. Hoa Kỳ nhìn lại quyết định đã mở cửa đón nhận Bắc Kinh vào Tổ chức Thương mại Thế giới. Mười năm trong gia đình gồm 153 thành viên này được đánh dấu bằng những mâu thuẫn về kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc.

Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ nhì của thế giới sau nước Mỹ, và có một khối dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới trị giá hơn 3.200 tỷ đô la mà một phần ba lại là khoản nợ cho Mỹ vay. RFI phỏng vấn chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ về mâu thuẫn này giữa hai quốc gia.

RFI: Xin kính chào anh Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa anh, là một thành viên sáng lập của Tổ chức Thương mại Thế giới, Mỹ giữ một vai trò quan trọng khi mở cửa cho Trung Quốc gia nhập. Hoa Kỳ nghĩ gì về quyết định ấy?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Nhìn một cách hời hợt thì Hoa Kỳ có một chữ cho tình huống họ gọi là “buyer’s remorse”, là sự ân hận của kẻ đi mua hớ! Sự thật lại có nhiều khúc mắc hơn thế.

– Nhân dịp kỷ niệm 10 năm Trung Quốc gia nhập tổ chức WTO mà lại là cuối năm, các cơ quan hữu trách của Mỹ đã phổ biến hai phúc trình liên hệ đến Trung Quốc. Thứ nhất là báo cáo năm 2011 của Hội đồng Duyệt xét Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về kinh tế và an ninh, được công bố hôm 16 tháng trước. Thứ hai là báo cáo từ Văn phòng Đại diện Thương mại của Phủ Tống thống Mỹ mới công bố hôm 12 vừa qua về việc Trung Quốc chấp hành những quy định của Tổ chức WTO. Cả hai báo cáo đều có những phê phán rất nặng, rằng Trung Quốc không tuân thủ những cam kết và đã trục lợi bất chính nên phương hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ.

– Sự thật thì trong 15 năm đàm phán của Trung Quốc để gia nhập Tổ chức WTO, Hoa Kỳ theo dõi rất sát và thủ rất kín về nhiều mặt trước khi chấp thuận quy chế tối huệ quốc cho Trung Quốc mà họ gọi là quy chế “mậu dịch bình thường và thường trực” thay vì phải xin Quốc hội tái tục hàng năm. Mỹ chỉ chấp nhận việc đó mấy tuần sau khi Bắc Kinh chính thức gia nhập tổ chức WTO vào cuối năm 2001 và quyết định ấy đã phải vượt qua nhiều rào cản từ phía Quốc hội Mỹ.

RFI: Đâu là vai trò của Quốc hội Mỹ trong hồ sơ này với Trung Quốc ? Hoa Kỳ đã có những “thế thủ” như thế nào ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Hoa Kỳ mở cửa kết giao với Trung Quốc từ năm 1972, đã bang giao với Bắc Kinh từ năm 1979 và thực tế là cho phép Trung Quốc kế thừa vị trí của Đài Loan trên các diễn đàn quốc tế. Rồi việc Trung Quốc xin gia nhập WTO và bắt đầu đàm phán với từng thành viên của WTO lại xảy ra sau vụ thảm sát Thiên an môn năm 1989 khi Bắc Kinh e sợ biến động chính trị vì yếu tố kinh tế và bị nhiều quốc gia cấm vận về kinh tế. Khi ấy Quốc hội Mỹ mới nêu ra nhiều điều kiện cho Hành pháp trong từng bước thương thảo với Bắc Kinh, trong đó có điều kiện ngoài kinh tế mà cũng có điều kiện trực tiếp liên hệ đến giao dịch kinh tế với Trung Quốc.

– Bắc Kinh áp dụng thủ thuật đàm phán là viện dẫn hoàn cảnh gọi là “đang phát triển” của xứ sở để xin một số đặc miễn mà họ sẽ tuần tự giải tỏa sau năm năm, 12 hay 15 năm. Phía Quốc hội Mỹ thì cho là Trung Quốc chưa có nền kinh tế thị trường đích thực nên nếu muốn được hưởng quy chế gọi là tối huệ quốc thì cũng phải có một số điều kiện mà Hành pháp Mỹ sẽ chấp hành. Vì vậy nội bộ Hoa Kỳ có nhiều cuộc tranh luận gay go về hồ sơ gia nhập của Bắc Kinh trước khi Chính quyền Bill Clinton rồi Chính quyền George W. Bush chấp nhận quy chế đó.

RFI: Hoa Kỳ đòi hỏi những gì trước khi đồng ý cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế giới ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Ngoài loại điều kiện gọi là phi kinh tế, như phải vận động cho Đài Loan gia nhập tổ chức WTO hoặc về việc Bắc Kinh phải tôn trọng nhân quyền và hạn chế phổ biến võ khí, v.v… Quốc hội Mỹ vẫn nương vào hoàn cảnh gọi là Trung Quốc chưa có kinh tế thị trường mà đòi quyền áp dụng một số biện pháp đặc biệt.

– Một trong các biện pháp đó là áp dụng khoản 301 trong Đạo luật Thương mại năm 1974 theo đó nếu doanh nghiệp Mỹ bị thiệt hại vì sức xuất cảng quá mạnh của Trung Quốc thì họ được khiếu nại và yêu cầu Chính phủ ban hành biện pháp bảo vệ nằm ngoài quy định của WTO. Điều kiện ấy mới giải thích vì sao phía Mỹ đã nộp nhiều hồ sơ khiếu nại với WTO và tranh cãi với Bắc Kinh. Song song, Quốc hội Mỹ cũng lập ra một cơ chế giám sát quan hệ an ninh và kinh tế giữa hai nước để định kỳ báo cáo và khuyến nghị Chính quyền ban hành biện pháp đối phó.

– Nôm na là khi Hành pháp chủ trương giao kết về kinh tế để hy vọng chuyển hoá Trung Quốc về chính trị hầu xứ này trở thành một đối tác biết điều và có trách nhiệm thì Lập pháp Mỹ vẫn thủ kín, nhất là về thương mại, để thường xuyên gây áp lực. Vì vậy, đây là chuyện “kẻ cắp gặp bà già” và phải nói rằng phía Mỹ không mấy ngạc nhiên về sự lật lọng của Trung Quốc. Các hồ sơ gọi là “lũng đoạn ngoại hối” khi Bắc Kinh định giá đồng bạc quá thấp, hoặc tội Trung Quốc “trợ giá xuất khẩu” và “biện pháp trả đũa” của Mỹ chỉ là những mặt nổi của một trận đấu liên tục.

RFI: Qua các vụ tranh tụng giữa đôi bên, người ta rút tỉa được những bài học nào?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Trong năm năm đầu tiên sau khi gia nhập WTO thì Trung Quốc có giải tỏa một số quy định về luật lệ, giá cả và thuế biểu hải quan theo những cam kết với Tổ chức này.

– Nhưng sau đó, và đây là điều Hoa Kỳ nhấn mạnh, Trung Quốc lại tiện thiện đặt ra luật mới và thi hành chiến lược phát triển có định hướng, theo “chính sách công nghiệp”. Đây là mật mã của việc họ chủ động can thiệp vào kinh tế để bảo vệ khu vực kinh tế nhà nước, tức là hệ thống quốc doanh, và tạo ra một sân chơi thiếu bình đẳng, thiếu thông tin minh bạch cho tư doanh nội địa và ngoại quốc khi tiếp nhận đầu tư trực tiếp của nước ngoài.

– Thật ra thủ thuật đó của Bắc Kinh còn tinh vi chi tiết hơn nhiều. Đó là tạo ưu thế cho doanh nghiệp của họ thụ đắc được loại công nghệ cao cấp để có bước nhảy vọt về kỹ thuật. Mặt ngoài thì người ta cứ nói đến việc Trung Quốc không thực thi việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ như đã cam kết với WTO nên vẫn còn nạn sao chép hoặc ăn cắp tác quyền của thiên hạ làm cho năm qua doanh nghiệp Mỹ bị lỗ gần 50 tỷ đô la. Nằm sâu bên trong còn là kế hoạch gọi là cưỡng bách chuyển giao công nghệ để cuối cùng Trung Quốc trở thành một thế lực sản xuất các mặt hàng công nghiệp có trình độ kỹ thuật cao và trực tiếp cạnh tranh với Mỹ với loại sản phẩm cứ tưởng là sở trường của Hoa Kỳ, Nhật Bản Nam Hàn hay Đài Loan. Thí dụ ai cũng thấy là Trung Quốc là hãng xưởng toàn cầu về chế tạo xe hơi, đồ gia dụng, hay máy vi tính cao cấp… Kết luận phía Mỹ là Trung Quốc hết là một xứ nông nghiệp lạc hậu đang phát triển mà còn thách đố quyền lợi của Hoa Kỳ về nhiều mặt, cả an ninh lẫn kinh tế.

RFI: Tương lai quan hệ thương mại Mỹ Trung đi về đâu khi Hoa Kỳ công khai than phiền về những chuyện cạnh tranh bất chính đó?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Năm tới, Hoa Kỳ sẽ có tổng tuyển cử và trước đó vài tuần Trung Quốc có Đại hội đảng khóa 18 và cả hai đều gặp nhiều khó khăn bên trong nên rất khó nhượng bộ.

– Dù đầy mưu lược, Trung Quốc cũng thấy ra sự bất toàn của chiến lược phát triển là thiếu cân đối, bất công, khó ổn định và không bền vững nên đã quyết định là sẽ phải cải cách. Cụ thể là cho dân hưởng nhiều hơn và nâng cao sức tiêu thụ của thị trường nội địa để tránh động loạn xã hội. Họ trình bày sự thể này như một thiện chi tái lập quân bình toàn cầu vì có nơi vay mượn và nhập khẩu quá mạnh, có nơi tiết kiệm và tiêu thụ quá ít. Nhưng về mặt tự ái và chính danh với thần dân thì đây là sự sốt sắng chủ động của lãnh đạo chứ không do sức ép của thiên hạ.

– Phía Hoa Kỳ thì cần xuất khẩu mạnh hơn theo chủ trương của Chính quyền Barack Obama để tạo thêm một hai triệu việc làm và yêu cầu xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc là một ưu tiên. Do đó họ đòi hỏi Bắc Kinh chấm dứt chế độ bảo hộ mậu dịch hiện hành để doanh nghiệp Mỹ đầu tư và bán hàng dễ dàng hơn. Sức ép đó từ phía Hoa Kỳ vào một năm tranh cử sẽ báo hiệu nhiều mâu thuẫn gay gắt hơn trong năm tới. Nhất là khi nhiều tiếng nói từ Quốc hội Mỹ đang đòi Hành pháp phải duyệt xét lại toàn bộ đối sách của Hoa Kỳ với Trung Quốc.

– Một cách khách quan thì Trung Quốc có lợi lớn sau khi gia nhập Tổ chức WTO, nhưng vì bản chất của chế độ kinh tế chính trị, mối lợi đó không tồn tại mãi và đã đến lúc họ phải cải cách nếu không thì cũng sẽ gặp vấn đề như Nhật Bản đã gặp 20 năm trước. Hoa Kỳ có thấy ra điều ấy nên càng gây áp lực mạnh hơn để xứ này phải cải cách thật.

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to WTO và Trận Chiến Mỹ-Hoa

  1. Phạm Thị Oanh Yến nói:

    CON LỢN BÉO TRUNG QUỐC
    Khi quân đội Mỹ triệt thoái khỏi miền Nam Việt Nam bởi Hiệp định Paris 1973, ngay cả khi Đệ thất Hạm đội nhận được tín hiệu cầu cứu từ Hải quân VNCH trong chận hải chiến giữa Hải quân VNCH và Hải quân TQ 19/01/1974, Hải quân Mỹ cũng không thể can thiệp vào vì Hiệp định Paris, không cho phép Mỹ can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống.
    Sau khi cs miền Bắc, hoàn toàn cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam dưới mỹ từ “giải phóng miền Nam”. Đã có lúc sự hoang tưởng vĩ cuồng của nhà cầm quyền cs VN lên tột độ khi tự hào rằng mình và Cuba là hai người lính gác cho sự an toàn, bình yên của khối XHCN. Một anh ở phía Đông và một anh ở phía Tây. Thậm chí cho mãi đến chuyến viếng thăm Cuba của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết vào 30/10/2009, cái niềm tự hào điên rồ ấy vẫn được chủ tịch Nguyễn Minh Triết nhắc lại để đến nỗi, đã được người đời gắn cho biệt danh là “anh Sáu chém gió”.
    Kể từ sau 1975, Mỹ không còn hoạt động quân sự nào đáng kể trong khu vực và các căn cứ quân sự trong khu vực Biển Đông cũng dần dần đóng cửa và chuyển giao lại cho quân đội chính quyền nước sở tại, bởi sự chống đối của dân chúng cũng như sự không chuẩn thuận của các cơ quan Lập pháp của các nước trong khu vực. Cờ Mỹ hạ xuống lần cuối cùng tại căn cứ Subic, Philipine 24/11/1992.
    Ngay cả quân đồn trú Mỹ tại Yosuka, Okinawa, Nhật bản, Hàn quốc cũng bị dân chúng tại các nước này, phản đối sự có mặt.
    Phải chăng chiến thắng của cs Bắc Việt, đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào báo hiệu đã đến lúc Tư bản giẫy chết?
    Theo tôi Mỹ đã triệt thoái khỏi miền Nam VN và khu vực Đông Nam Á vì đã thấy trước hai ngòi nổ trong tương lai.
    1-Ngòi nổ cho sự mâu thuẫn trong khối XHCN, mà Việt Nam là tác nhân chính.
    Thật vậy sau chiến thắng 1975, nhà cầm quyền cs VN đã phủi tay trước sự đóng góp sức người, sức của của TQ trong cuốc chiến 21 năm với chính quyền VNCH, ký hiệp hữu nghị với khối SEV 29/06/1978. Ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên xô 31/11/1978.
    Từ đây làm chia rẽ sâu sắc hai cường quốc trong khối XHCN là Trung Quốc và Liên Xô, dẫn đến chiến tranh biên giới phía Bắc giữa TQ và VN với lời nói nổi tiếng cuả Đặng Tiểu Bình :”Dạy cho côn đò VN một bài học”, chiến tranh biên giới phía Nam giữa VN và Campuchia. Làm suy yếu và chia rẽ khối XHCN, tạo điều kiện cho Tổng thống Ronald Reagan kết thúc sự tồn tại của khối Đông Âu bằng cách làm cho Liên Xô kiệt quệ về kinh tế khi tham gia chạy đua vũ trang một cuộc chiến cuội ” Chiến tranh giữa các vì sao” mà Tổng thống Ronald Reagan đã tưởng tượng ra.
    2-Ngòi nổ cho sự mâu thuẫn giữa các nước trong khu vực Biển Đông và Trung Quốc và lần này cũng chính lãnh thổ của VN cụ thể là quần đảo Hoàng sa và Trường sa là tác nhân chính.
    Ngay trong thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai khối Tư Bản và XHCN, Mỹ đã từng bước giúp TQ mở cửa, cải cách kinh tế, đạt được mức tăng trưởng thần kỳ trên 9% trong suốt hơn ba thập niên, thậm chí có những đồn đoán TQ sẽ vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế số một thế giới vào 2035. Biến những làng chài nghèo đói sơ xác ven biển của TQ, thành những đặc khu kinh tế sầm uất ngày nay với lợi thế cạnh tranh chỉ là sức lao động rẻ, sự lơi lỏng của luật pháp về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cũng như bảo vệ người lao động.
    Việt Nam sau khi bình thường hóa với TQ cũng đã rập khuôn theo mô hình này.
    Với những lao động giản đơn, chủ yếu là gia công, lắp ráp những sản phẩm cho mạng lưới phân công lao động và vùng nguyên liệu toàn cầu của các Tập đoàn đa quốc gia. Các sản phẩm của TQ và VN, đa số có hàm lượng kỷ thuật thấp, hoặc tiêu hao năng lượng nhiều. Để có được thành tựu như ngày hôm nay TQ cũng như VN đã vắt kiệt sức người lao động cũng như nguồn tài nguyên thiên nhiên và đối đầu với khủng hoảng về năng lượng cũng như sự bần cùng của người lao động.
    Những đập thủy điện chằng chịt trên sông Dương tử, phá hoại môi trường thiên nhiên cũng không đủ cung cấp năng lượng cho Đại công trường thế giới. 80% nguồn dầu thô, nguyên liệu cho sản xuất TQ đều phải qua eo biển Malacca. Để bảo đảm an ninh năng lượng và tìm nguồn năng lượng cho sản xuất, TQ đã tỏ thái độ hung hãn tuyên bố lợi ích cốt lõi trong việc tuyên bố chủ quyền qua đường biên giới lưỡi bò chín khúc trong khu vực biển Đông vào những năm cuối của thập niên thứ nhất thế kỷ 21. TQ đã liên tục uy hiếp, đe dọa và xâm phạm chủ quyền của các nước đang tranh chấp trong khu vực dưới nhiều hình thức.
    Sau một thời gian dài vắng mặt và bị ghẻ lạnh, ngày nay sự hiện diện trở lại của Mỹ tại Châu Á Thái bình Dương đang được các nước trong khu vực chào đón. Các căn cứ quân sự trong chuổi ngọc trai trên biển Đông đã được mở lại. Các cuộc tập trận với các nước trong khu vực cũng được khởi động lại với các cuộc tập trận trên biển Carat, Seacat… tại vùng biển phía Đông đảo Palawwan, Zamboanga…
    Hiệp ước phòng vệ hổ trợ với các nước trong khu vực như Sigapore, Philipine, Indonesia, Malaysia, Brunei, Thailand, Taiwan đang được hâm nóng lại trước sự hung hãn của bá quyền Bắc Kinh. Thêm vào đó Liên minh quân sự Mỹ Úc Ấn với căn cứ quân sự Darwin đã bịt kín lổ hổng Nam Thái Bình Dương, khi Darwin nhìn ra biển theo chiều kim đồng hồ Indonesia và Singapore, kiểm soát được eo Malacca, eo Sudan, Đài Loan, Hàn quốc, Nhật Bản vòng xuống đảo Guam ra Papua new guine, tạo ra tuyến phòng thủ và kiểm soát phía sau chuỗi căn cứ quân sự trên biển Đông và đủ tránh được tầm bắn của tên lửa nhưng sẽ can thiệp kịp thời tới tất cả các điểm nóng trong khu vực.
    Lấy tâm là Philipine và quần đảo Trường Sa trên con đường huyết mạch từ Ấn Độ Dương vào Tây Thái Bình Dương, Darwin cách
    Indonesia: 8200km
    Malacca : 3500km
    Sunda: 2600km
    Trường Sa: 4500km
    Darwin gần Đông Nam Á hơn so với các căn cứ quân sự khác trong khu vực như Nhật hoặc Hàn Quốc.
    Bên cạnh đó đường ống dẫn dầu được TQ xây dựng dọc theo bờ biển Myanmar để dẫn dầu thô, được vận chuyển qua ngã Ấn Độ Dương qua vùng biển Andaman, về những nhà máy lọc dầu ở Vân Nam, TQ nhằm tránh thế phụ thuộc vào eo biển Malacca cũng đã bị khóa khi Tổng thống Thein Sein của Myanmar vừa qua cho lệnh ngưng xây dựng đập thủy điện Myistone trên sông Irrawady, một công trình hợp tác với TQ do sự phản dối của nhân dân Myanmar. Ông cũng đã thả lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi, công nhận luật biểu tình, cho phép đăng ký thành lập các đảng đối lập, nới lỏng kiểm duyệt báo chí. Myanmar đang chối bỏ liên minh với TQ và đang ngã qua phương Tây. Tổng thống Thein Sein đã đặt quyền lợi của Dân tộc lên trên quan hệ với TQ.
    Thòng lọng đã thắt vào cổ của con lợn béo TQ và đang xiết lại, buộc TQ sẽ phải chơi đúng luật.
    Chơi đúng luật theo lời Tổng thống Obama ở đây không chỉ hiểu một cách đơn giản là Công ước quốc tế về luật biển mà còn về việc TQ áp dụng chính sách đồng Yuan yếu hay việc TQ vi phạm Luật Nhân Quyền và quyền tự trị của các dân tộc như Tây Tạng, Nội Mông…
    Mà chơi đúng Luật thì TQ “tắc tử”
    Mỹ đã không phải không có lý khi vỗ béo con lợn Trung Quốc.
    Việc gì cũng phải có thời điểm của nó. Đã đến lúc xẻ thịt con lợn béo Trung Quốc.
    Qúy vị nghĩ sao?
    Tư bản hay Cộng Sản đang dẫy chết?
    17/12/2011
    Phạm Thị Oanh Yến

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s